Tuổi Trẻ Đáng Giá Bao Nhiêu
Tuổi Trẻ Đáng Giá Bao Nhiêu của Rosie Nguyễn khuyến khích người trẻ chủ động học hỏi, đọc...
Review 7 Thói Quen Hiệu Quả của Stephen R. Covey: chọn thói quen đầu tiên theo vấn đề bạn gặp, từ mục tiêu mơ hồ, lịch quá tải đến phối hợp trong nhóm.
Kết luận nhanh: 7 Thói Quen Hiệu Quả đáng đọc nếu bạn thường kết thúc một ngày bận rộn mà việc quan trọng nhất vẫn chưa tiến triển, hoặc nếu công việc liên tục vướng ở khâu phối hợp. Nếu đã biết đích đến nhưng lịch bị việc gấp lấn át, hãy bắt đầu thực hành với thói quen 3. Nếu chưa biết thế nào là làm tốt, hãy bắt đầu từ thói quen 2; nếu hai bên cứ nói mà không hiểu nhau, thử thói quen 5.
| Thông tin | Chi tiết |
|---|---|
| Tên tiếng Việt | 7 Thói Quen Hiệu Quả |
| Tên gốc | The 7 Habits of Highly Effective People |
| Tác giả | Stephen R. Covey |
| Ấn bản tiếng Việt tham chiếu | In lần thứ 17, năm 2024, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh |
| Năm nguyên tác ra mắt | 1989 |
Thông tin bản Việt đối chiếu với mục 56 trong Thư mục Quốc gia tháng 11/2024. Mốc 1989 là năm nguyên tác ra mắt theo FranklinCovey. Khi đối chiếu một bản in khác, hãy xem trang thông tin xuất bản của chính cuốn đó.
Covey đặt câu hỏi về hiệu quả ở hai cấp: bạn quyết định làm gì với thời gian và trách nhiệm của mình, rồi bạn phối hợp với người khác ra sao để tạo kết quả mà một mình khó đạt được. Chẳng hạn, xử lý hết tin nhắn có thể giúp một buổi sáng trôi chảy, nhưng nếu mục tiêu của nhóm là bàn giao đúng hẹn, việc cần làm trước có thể là hỏi người phụ trách một dữ kiện đang chặn cả dự án.
Theo khung của FranklinCovey, ba thói quen đầu hướng vào cách quản trị bản thân, ba thói quen tiếp theo hướng vào hợp tác và thói quen cuối dành cho việc duy trì năng lực lâu dài. Bảng dưới đây diễn giải từng thói quen bằng những câu hỏi có thể dùng ngay; đây là gợi ý của bài review.
| Thói quen | Câu hỏi để áp dụng |
|---|---|
| 1. Tự chủ | Trong việc đang làm mình bực hoặc lo, phần nào mình có thể quyết định, đề xuất hoặc báo sớm? |
| 2. Bắt đầu bằng đích đến | Đến cuối công việc, mình cần bàn giao gì và ai sẽ dùng kết quả đó? |
| 3. Ưu tiên điều quan trọng | Việc nào sẽ thành khẩn cấp nếu mình tiếp tục trì hoãn? Mình sẽ dành thời gian nào cho nó? |
| 4. Tư duy cùng thắng | Hai bên cần bảo vệ điều gì và có phương án nào đáp ứng được những điều kiện đó? |
| 5. Thấu hiểu rồi được hiểu | Mình có thể diễn đạt lại mối lo của người kia và hỏi xem mình hiểu đúng chưa? |
| 6. Cùng tạo cách mới | Có phương án thứ ba nào tận dụng được điều mỗi bên biết mà bên kia chưa thấy? |
| 7. Rèn mới bản thân | Trong tuần tới, mình cần chừa chỗ cho nghỉ ngơi, học hỏi hoặc chăm sóc một mối quan hệ nào? |
Nếu bạn và đồng nghiệp đều được giao “chuẩn bị báo cáo” nhưng một người định tổng hợp số liệu, người kia chờ một đề xuất để ra quyết định, cả hai có thể làm nhiều mà vẫn phải làm lại. Trước khi chia việc, thử viết một câu: “Sau khi đọc, người nhận sẽ có đủ thông tin để quyết định điều gì?” Nếu nhóm trả lời khác nhau, hãy chốt lại với người giao việc rồi mới mở lịch hoặc phân công.
Chọn một đầu việc có thể tiến thêm trong tuần và đặt trước một khoảng làm việc đủ để tạo ra kết quả nhìn thấy được, chẳng hạn hoàn thành dàn ý và gửi người góp ý. Trong công việc cần trực hoặc thường xuyên xử lý yêu cầu gấp, khoảng này có thể ngắn và linh hoạt. Cuối tuần, xem mình đã tạo ra gì và nguyên nhân thực sự của những lần bị dời. Nếu có hai hạn chót xung đột, hãy đưa cả hai cho người có quyền chốt ưu tiên.
Trong cuộc trao đổi về tiến độ, một bên nói “cần gửi hôm nay” còn bên kia nói “chưa đủ dữ liệu”. Trước khi thuyết phục nhau, hãy làm rõ vì sao mốc hôm nay quan trọng, dữ liệu nào còn thiếu và phần nào có thể gửi trước. Dấu hiệu cuộc trò chuyện có tiến triển là hai bên xác nhận cùng hiểu vấn đề và biết ai cần làm gì tiếp theo, kể cả khi chưa thống nhất được giải pháp cuối cùng.
Ba điểm bắt đầu trên là gợi ý thực hành. Nếu đọc bản đầy đủ, trình tự của Covey giúp hiểu vì sao chọn đích và giữ ưu tiên thường đi cùng nhau, và vì sao lắng nghe có ích trước khi tìm cách hợp tác.
Điểm mạnh nhất là ghép câu hỏi “Kết quả nào đáng làm?” với câu hỏi “Mình đã dành thời gian cho nó chưa?”. Nhìn riêng lịch làm việc, ta dễ thấy một ngày kín chỗ là một ngày có ích. Đặt lịch cạnh mục tiêu, ta nhìn ra việc cần chuẩn bị từ sớm, như xin phản hồi trước ngày bàn giao thay vì chờ đến khi việc sửa trở nên cấp bách.
Lịch cá nhân gọn gàng chỉ giải quyết được một phần vấn đề nếu công việc còn phụ thuộc vào người khác. Các chương về lợi ích chung và lắng nghe giúp nhìn ra vì sao một cuộc họp lặp lại: đôi khi mỗi bên đang cố tối ưu một tiêu chí khác nhau. Làm rõ tiêu chí trước khi chọn giải pháp là một cách đem ý tưởng trong sách vào tình huống cụ thể.
Thói quen cuối làm rõ một điểm dễ bị bỏ qua: khả năng làm việc tuần sau cũng là thứ đáng bảo vệ trong lịch tuần này. Điều đó có thể là để trống một buổi tối, dành giờ học một kỹ năng đang thiếu hoặc hẹn một cuộc trao đổi giúp tháo vướng mắc sớm. Đây là một cách xem lại kế hoạch dài hạn, không phải yêu cầu phải giữ mọi mặt của cuộc sống cân bằng trong từng ngày.
Khung của Covey dễ dùng để đặt câu hỏi, nhưng không chỉ sẵn cách chia ca, xử lý xung đột nguồn lực hay chọn chỉ số đánh giá một nhóm. Người cần một quy trình có thể giao cho cả đội ngay sẽ phải bổ sung bước xác định trách nhiệm, ràng buộc và cách kiểm tra kết quả. Cách đọc dễ áp dụng hơn là mang một tình huống vào từng chương.
Đặt lịch hay giao tiếp tốt không làm biến mất khối lượng việc vượt sức, quyền quyết định không rõ hoặc hành vi thiếu an toàn ở nơi làm việc. Khi không có quyền chốt, hành động khả thi có thể là ghi rõ các yêu cầu đang xung đột, xin người phụ trách chọn ưu tiên hoặc tìm kênh hỗ trợ phù hợp. Không nên quy mọi trở ngại về thiếu kỷ luật cá nhân hay ép mình tìm phương án cùng thắng trong mọi tình huống.
Những ví dụ và nguyên tắc của sách có thể gợi cách thử, nhưng không bảo đảm một kết quả như nhau cho mọi người. Các ý về tự chủ và rèn mới bản thân không dùng để tự chẩn đoán, điều trị hoặc thay thế chăm sóc sức khỏe tâm thần.
Nên đọc nếu bạn vừa bắt đầu dẫn một nhóm, tự điều phối một dự án dài hơi hoặc đang muốn xem lại mối liên hệ giữa lịch làm việc và mục tiêu. Người chưa làm quản lý cũng có thể dùng các chương về ưu tiên và lắng nghe trong một đồ án hoặc công việc cần phối hợp với nhiều bên.
Có thể bỏ qua hoặc để sau nếu bạn chỉ cần xây một hành vi nhỏ, như mở tài liệu học sau bữa tối. Atomic Habits tập trung sát hơn vào việc thiết kế hành vi lặp lại. Nếu bạn đang chọn theo nhu cầu khác, xem các gợi ý sách phát triển bản thân hoặc sách kinh doanh theo vấn đề thực tế.
| Tiêu chí | Nhận định |
|---|---|
| Độ rõ | Cấu trúc ba nhóm dễ nhớ. Một số ý như tự chủ hay cùng thắng dễ bị hiểu hẹp nếu chỉ đọc tên chương. |
| Khả năng áp dụng | Dễ thử ở quy mô một cuộc trao đổi hoặc một tuần làm việc. Áp dụng cho cả nhóm còn cần quyền quyết định, thời gian và sự thống nhất. |
| Cơ sở lập luận | Các nguyên tắc và ví dụ tạo thành một khung nhất quán để suy ngẫm. Giá trị của khung không đồng nghĩa với bằng chứng rằng áp dụng đủ bảy thói quen sẽ bảo đảm hiệu quả. |
| Độ phù hợp | Hợp nhất khi người đọc vừa cần chọn việc quan trọng, vừa cần phối hợp với người khác. Ít phù hợp nếu chỉ tìm kỹ thuật tạo một thói quen hoặc một quy trình quản lý chi tiết. |
Stephen R. Covey viết The 7 Habits of Highly Effective People. FranklinCovey ghi nhận nguyên tác ra mắt năm 1989; năm 2024 trong bảng là năm của bản in tiếng Việt được bài này đối chiếu.
Không. Ba thói quen đầu dành cho việc tự quản, xác định kết quả và chọn ưu tiên. Bạn có thể dùng chúng khi lập kế hoạch học tập hoặc nhận một việc mới mà chưa có vai trò quản lý.
Không. Ưu tiên là một phần của khung. Sách còn bàn về trách nhiệm cá nhân, đặt đích đến, tìm lợi ích chung, lắng nghe, hợp tác và duy trì năng lực.
Nếu mục tiêu đã rõ, hãy thử thói quen 3: đặt một khoảng thời gian cho việc quan trọng và chọn trước kết quả cụ thể cần có. Nếu chưa biết kết quả nào mới có ích, dùng thói quen 2 để làm rõ trước.
Tuổi Trẻ Đáng Giá Bao Nhiêu của Rosie Nguyễn khuyến khích người trẻ chủ động học hỏi, đọc...
Nghĩ giàu và làm giàu của Napoleon Hill giới thiệu những nguyên tắc về mục tiêu, niềm tin,...
Review Atomic Habits của James Clear: ba điểm mạnh, ba giới hạn và ai nên đọc. Đánh giá cá...
Review Dám Bị Ghét của Ichiro Kishimi và Fumitake Koga: cách phân định trách nhiệm, giới h...